Lươn: Món ăn – bài thuốc đại bổ

Lươn là món ăn đặc sản của người Việt Nam. Trên thế giới, lươn cũng được xếp vào hạng sơn hào hải vị dành riêng cho thượng khách, cho các vị nguyên thủ quốc gia. Ngoài ra lươn còn là vị thuốc quý trong y học cổ truyền. Lươn cũng được coi là một trong “Bốn món tươi ngon dưới sông” (tứ đại hà tiên).

Lươn thuộc họ Anguillidae. Lươn đồng hay lươn nước ngọt có tên khoa học là Fluta alba; lươn biển hay cá chình tên khoa học là Anguilla anguilla (Việt Nam, châu Âu) và Anguilla Rostrata (Bắc Mỹ).

Theo Đông y, lươn hay thiện ngư, trường ngư, hoàng đán, hoàng thiện, hải xà, đán ngư, vị ngọt, tính ấm, có tác dụng bồi bổ khí huyết, trừ được phong thấp. Theo y dược Trung Hoa, lươn có thể chữa được bệnh suy dinh dưỡng, kiết lỵ, đau nhức xương sống, phong thấp, trĩ nội, bệnh huyết trắng của phụ nữ. Với đặc tính bổ dưỡng và sinh khí huyết, máu lươn (thiện ngư huyết) có khả năng tăng cường dương khí, giúp máu huyết lưu thông, trị được chứng khô miệng, đau nhức trong tai và tăng cường khả năng tình dục.

Toàn bộ con lươn đều có thể dùng làm thuốc:
+ Đầu lươn trị lỵ, trị thực tích không tiêu.
+ Da lươn trị phụ nữ có hạch vú cứng đau.

Nếu so các loại như hến, tôm đồng, cua đồng thì thịt lươn là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao nhất. Bởi vậy, thịt lươn luôn được lựa chọn là thức ăn bồi bổ cho người ốm, người già, trẻ nhỏ, tuy nhiên, cần hết sức chú ý trong cách chế biến.

MỘT SỐ KINH NGHIỆM DÙNG LƯƠN TRỊ BỆNH

  • Trị viêm gan mạn tính: Lươn vàng (2 – 3 con) làm thịt, bỏ ruột; tầm gửi cây dâu (60g); rễ lau (30g); nước vừa đủ. Tất cả đem nấu chín, ăn cả cái và nước.
  • Trị tiêu chảy với phân có đàm nhớt và máu: Nướng một con lươn nước ngọt sau khi mổ bỏ ruột gan và tạng phủ. Sau đó rang với 10g đường vàng, tán thành bột. Uống bột với nước ấm ngày 3 – 4 lần, mỗi lần 1 – 2 muỗng cà phê.
  • Trị bệnh trĩ: Ăn thịt lươn để giúp cầm máu và trị búi trĩ. Khi nấu lươn nên dùng nồi đất vì lươn kỵ kim khí và nồi đất làm bớt mùi tanh của lươn. Mổ lươn theo cách cổ truyền là không dùng dao mà dùng cật tre vót mỏng để tránh sự tương khắc giữa máu lươn với kim loại.

  • Trị trĩ nội ra máu: Lươn vài con, mổ bỏ nội tạng, thêm tương, rượu, mỗi thứ với lượng vừa để chiên. Ăn thường xuyên có kết quả khá tốt.
  • Trị sa hậu môn: Đầu lươn nướng khô tán bột, dùng uống với rượu vang, mỗi ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 5g, dùng liền 5 – 7 ngày.
  • Trị chứng lỵ lâu ngày, tiểu ra máu có mủ: Lươn 1 con, giết mổ bỏ nội tạng, rửa sạch, nướng khô, tán thành bột nhuyễn, thêm 10g đường đen đã xào qua trộn lẫn, sau đó nuốt uống với nước ấm, mỗi ngày 1 lần, 5 – 7 ngày là một liệu trình.
  • Trị ho do hư lao: Lươn 250g, đông trùng hạ thảo 3g, nấu canh, dùng liền vài tuần.
  • Trị tiểu đường: Lươn 200g, bắc sa sâm 10g, bách hợp 10g, gừng, gia vị vừa đủ. Lươn làm sạch, bỏ ruột, bỏ xương, cắt đoạn nhỏ, cho gừng sống vào đun sôi rồi cho sa sâm, bách hợp vào, đun nhỏ lửa trong nửa giờ. Ăn trong bữa cơm.
  • Trị phong thấp: Dùng lươn um (hầm) chung với sả và rau ngổ. Cũng có thể nấu cháo lươn với đỗ trọng, lá dâu tằm và ngũ gia bì.

  • Trị liệt mặt:
    + Lươn, chặt đứt đuôi, hứng lấy máu (khoảng ¨ thìa cà phê), trộn với 1 ít băng phiến cho sền sệt, bôi vào vùng má đối diện với bên méo (Từ cuối dái tai đo về phía má khoảng 3 ngang ngón tay – bảo người bệnh há miệng rồi khép miệng lại, chỗ lõm chuyển động dưới tay là huyệt). Đắp thuốc khoảng 30 phút đến 1 giờ. Trong thời gian đắp thuốc, thỉnh thoảng bảo người bệnh chúm môi lại, hễ thấy nhân trung thẳng lại, không còn méo nữa thì bỏ thuốc ra, dùng nước âm ấm lau sạch chỗ thuốc đắp vào. Nếu không theo dõi, có khi miệng sẽ bị kéo lệch về bên kia.
    + Máu đuôi lươn (1 phần), nhựa cây duối hoặc bột hạt thầu dầu tía (2 phần). Đánh cho nhuyễn, phết lên giấy, dán vào má (bị bên này thì dán bên kia và ngược lại). Thực hiện và theo dõi như hướng dẫn nêu trên.
  • Trị chứng suy nhược do lạm dụng tình dục: Đun lươn (lươn biển) với rượu chát đỏ đến khi cạn (1 con dùng 250ml rượu). Sau đó nướng lươn đã nấu chín (cả da lẫn xương), xong tán thành bột. Uống mỗi ngày từ 7-10g với rượu tùy theo tình trạng suy nhược.
  • Trị người lớn tuổi khí huyết hư nhược, gân cốt rã rời, mỏi mệt không có sức: Lươn 1 con to, đảng sâm 25g, đương quy 15g, gân bò 30g. Lươn bỏ ruột rửa sạch, chặt thành khúc, lấy một cái nồi đất sạch cho lươn, đảng sâm, đương quy, gân bò vào, thêm lượng nước thích hợp đun lên, khi chín thì bỏ ra ăn.
  • Trị thần kinh suy nhược: Thịt lươn 250g thái nhỏ, hấp cách thủy với hoài sơn, bách hợp mỗi thứ 30g và nước vừa đủ. Ăn trong ngày, dùng nhiều ngày.
  • Trị mệt mỏi mất sức, hồi hộp đoản hơi, hoa mắt chóng mặt: Lươn 250g (bỏ nội tạng, cắt đoạn), thịt nạc 100g, hoàng kỳ 50g, đại táo 10 quả, cùng nấu chín, loại bỏ bã thuốc, dùng canh ăn thịt, dùng liền vài ngày. Món ăn này được đánh giá là đại bổ khí huyết.
  • Trị chân tay yếu không sức: Lươn 1 con, rau kim châm 20g, tần cách thủy, dùng thường xuyên.
  • Trị phụ nữ sau khi sinh bị suy nhược, mệt mỏi, không có sức: Lươn 1 con, đương quy 20g, đảng sâm 15g, thịt heo nạc 100g. Nấu ăn trong ngày. Liên tục 10-15 ngày.
  • Trị phụ nữ vú sưng cứng đau: Da lươn phơi khô đốt thành than, tán nhuyễn, dùng uống với rượu vang lúc bụng đói trước bữa ăn, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 3g, 10 ngày là một liệu trình.
  • Trị phụ nữ sau khi sinh bị suy yếu: Lươn to vài con, mổ bụng bỏ ruột, rút chỉ máu dọc sống lưng, dùng muối làm sạch ướp nước tương, gừng, xì dầu, ít rượu trắng. Chờ cơm sắp cạn trải đều lươn trên mặt cơm, hấp cho chín, ăn nóng.
  • Trị bạch đới (khí hư): Lươn 1 con to, lấy phần giữa (khoảng 30cm) đốt ra tro; hồ tiêu 15 hạt tán nhỏ, trộn với rượu, uống.
  • Trị chứng cam tích ở trẻ em: Lươn 3 con (băm nhỏ), hương nhu 10g, tiềm (tần) cách thủy, dùng liền vài tuần.
  • Trị trẻ biếng ăn, ăn không tiêu, mồ hôi trộm: Thịt lươn: 1 con (250 – 300g), kê nội kim (màng mề gà) 6g; hành, gừng, nước tương, muối, bột ngọt vừa đủ. Lươn làm thịt, bỏ nội tạng, rửa sạch, cắt đoạn dài 6cm, kê nội kim rửa sạch, bỏ vào bát sứ cùng thịt lươn, gia hành, gừng, rượu, muối, nước tương, dùng lửa lớn rồi hạ nhỏ, chưng chín, cho chút bột ngọt vào, trộn đều là được.
  • Trị tiêu chảy ở trẻ em (đại tiện 5 – 6 lần/ngày, phân chua hoặc thối khắm): Lươn 125g, kê nội kim 5g, hoài sơn 10g, gừng tươi 2 lát. Lươn làm sạch xào với gừng cho thơm, tưới ít rượu, cho nước vừa đủ rồi cho kê nội kim và hoài sơn vào. Dùng lửa lớn rồi hạ nhỏ đun 1 giờ cho gia vị. Trẻ nhỏ uống phần nước.
  • Trị trẻ em suy dinh dưỡng, bụng ỏng, đít teo, phân sống, gầy còm, biếng ăn: Thịt lươn 300g, đương quy 15g, đảng sâm 15g, hành tây 25g, gừng tươi 15g, muối ăn vừa đủ. Lươn rửa sạch, thái sợi, đương quy và đảng sâm cho vào túi vải, bỏ vào nồi cùng thịt lươn, đổ nước nấu trong 1 giờ, vớt bỏ túi thuốc, thêm hành, gừng muối, nấu thêm 1 tiếng nữa là được. Ăn thịt lươn và nước. Món này bổ hư rất tốt. Ăn thường xuyên có tác dụng bổ dưỡng, chữa thần kinh và thể lực suy nhược do ốm lâu ngày, khí huyết bất túc, gầy yếu, da vàng héo.
  • Trị liệt dương: Lươn được hầm chung với hà thủ ô, hạt sen, mộc nhĩ (nấm mèo) hay nấm linh chi. Có thể thêm lá lốt.
  • Cường dương, trị yếu sinh lý: Lươn 500g, bắp heo 150g, dầu mỡ 100g, nước tương 50ml, bột năng 25g, rượu vang 40ml, đường cát trắng 25g, hành, gừng mỗi thứ với lượng vừa. Lươn giết mổ bỏ nội tạng, dùng nước sôi ngâm giây lát, rửa sạch chất nhớt, cắt thành 3 đoạn dài khoảng 30cm. Thịt bắp cắt lát dài 30cm, dày 1mm. Dầu mỡ cho vào chảo nóng, sau khi cho hành, gừng bốc thơm, cho ngay lươn, thịt bắp, rượu vang, đậy nắp hầm trong giây lát, mở nắp, thêm nước lạnh 700ml. Sau khi sôi, dùng lửa nhỏ hầm 30 phút, làm cho thịt mềm. Lại dùng lửa lớn nấu đến hơi đặc, cho vào bột năng, khuấy chảo, rưới lên dầu mỡ, lật trộn lần nữa, rưới tiếp dầu mỡ, cho ra thố.

LƯU Ý:

Lươn thường chui rúc dưới ao bùn, sình lầy, nước đục… Vì sống trong môi trường bẩn như thế, lại thêm thói ăn tạp, nên hệ tiêu hóa và chính cả thịt của lươn có thể nhiễm vi trùng và ký sinh trùng; đã có bệnh nhân ăn lươn xào chưa chín kỹ đã bị nhiễm loại ký sinh này…

Tình trạng nhiễm ấu trùng Gnathostoma spingerum khá cao ở người có thói quen ăn thức món chưa nấu chín kỹ như lươn xào tái, lươn gỏi… Trong lươn có một loại ấu trùng ký sinh sống rất dai và chịu được nhiệt độ cao, vì vậy, nếu chỉ xào qua trên lửa, những ấu trùng ký sinh sẽ còn sống và theo đường ăn uống vào trong ruột.

Cũng cần lưu ý rằng, vì thịt lươn có nhiều chất đạm, đặc biệt có axít amin histidine, là một axít amin rất cần cho trẻ em, bình thường histidine rất tốt cho cơ thể, nhưng khi con lươn chết axít amin này sẽ biến đổi thành chất histamine, một chất độc gây ra dị ứng miễn dịch có hại cho con người.

Phụ nữ có thai không nên dùng lươn.

Tóm lại, lươn là thực phẩm phổ thông, quen thuộc và rất tốt, rất bổ cho cơ thể tuy nhiên khi chế biến cần lưu ý hai điều: phải đun nấu thật chín để loại trừ hẳn các ký sinh trùng và không dùng thịt lươn đã chết hay đã bị ươn thối.

BÀI VIẾT MỚI
- Advertisment -spot_img

TIN LIÊN QUAN