https://linchidofood.com.vn/
HomeChuyên Đề YHPTBài ThuốcBài thuốc hiệu quả dùng từ Ngải cứu

Bài thuốc hiệu quả dùng từ Ngải cứu

  • Trị kinh nguyệt ra nhiều, tử cung xuất huyết do suy nhược: Ngải cứu 12g, Sinh địa 10g, Đương quy 10g, Bạch thược 5g, Xuyên khung 3g. Sắc với 800ml nước còn 300ml, lọc bỏ bã, thêm 12g A giao vào quấy đều, chia 3 lần uống trong ngày.
  • Trị có thai 2 tháng mà thai bị động không yên: Đại táo 12 quả, Ngải cứu 24g, Sinh khương 24g. Sắc uống.
  • Trị tử cung lạnh làm cho vô sinh: Bạch thược, Đương quy, Hương phụ (tứ chế), Ngải cứu, Thục địa, Xuyên khung. Tán bột, làm viên. Ngày uống 12 – 16g.
  • Trị có thai bị thương hàn nóng đến nỗi phát ban, rồi lại biến ra nốt đen, tiểu ra máu: Ngải cứu, viên lại to bằng quả trứng gà, sắc với 200ml rượu, còn một nửa. Chia làm hai lần uống.
  • Trị phụ nữ bị các chứng hư, kinh nguyệt không đều, đau nhói do khí huyết, bụng sườn đầy trướng, chóng mặt, muốn nôn, băng lậu, đới hạ: Đương quy, Ngải cứu đều 80g, Hương phụ 240g. Chưng với giấm nửa ngày, phơi khô, tán bột. Dùng giấm nấu với nếp làm hồ, trộn với thuốc bột làm hoàn. Ngày uống 16 – 20g.
  • Trị dọa xẩy thai: Ngải cứu, Sa nhân đều 6g, A giao (hòa vào uống), Bạch truật đều 15g, Tô ngạnh, Hoàng cầm đều 12g, Tang ký sinh, Đỗ trọng đều 24g. Tùy chứng gia giảm, sắc uống.

  • Trị kinh nguyệt không đều, kinh nguyệt kéo dài, đau bụng lúc hành kinh: Hương phụ, Ngải cứu đều 500g, tá dược vừa đủ 1 lít. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 30ml, uống 1 giờ trước bữa ăn sáng và tối.
  • Điều hòa kinh nguyệt: Một tuần trước ngày kinh dự kiến, mỗi ngày lấy 6 – 12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5 – 10g) hay dạng cao đặc (1 – 4g).
  • Trị phụ nữ sau khi sinh bị suy nhược, biếng ăn, lạnh bụng: Ngải cứu 20g, Gà ác 1 con (200g). Nấu chung, ăn gà, uống nước thuốc. Bài này dùng có kết quả rất tốt.
    Trị mụn cơm, mụn cóc: Giã Ngải cứu tươi đắp trên mụn cơm, mụn cóc nhiều lần mỗi ngày thấy mụn bay mất trong 3 – 10 ngày.
  • Trị sốt rét: Cho bệnh nhân sốt rét uống 2 ngày liều cao Ngải cứu, 2 giờ trước khi lên cơn, có thể chặn cơn đến 89%, đồng thời thử nghiệm tìm ký sinh trùng sốt rét, thấy âm tính trên nửa các ca trên.
  • Sơ cứu vết thương: Lấy lá Ngải cứu tươi giã nát, thêm 1/3 muỗng cà phê muối đắp lên vết thương, cầm máu nhanh, giảm đau nhức.
  • Trị mụn, mẩn ngứa: Lá Ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục như vậy sẽ có làn da trắng sáng hồng. Với trẻ em thường hay bị rôm sảy thì lấy lá ngải cứu xay nát rồi lọc lấy nước cho trẻ tắm.
  • Đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương, đau đầu hoa mắt: Lấy 300g Ngải cứu rửa sạch, giã nát, thêm 2 muỗng mật ong (ruồi, nghệ), vắt lấy nước uống trưa, chiều. Uống liên tục trong 1 – 2 tuần.
  • Suy nhược cơ thể, kém ăn: Lấy 250g Ngải cứu, 2 quả Lê, 20g Câu kỷ tử, 10g Đinh quy, 1 con gà ri (gà ác) 150g, hầm trong 0,5 lít nước (thêm gia vị, bột nêm) còn 250ml. Chia làm 5 phần, ăn cả ngày. Liên tục 1 – 2 tuần.
  • Cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần kinh:

+ Cách thứ 1: Lấy 300g Ngải cứu, 100g lá Khuynh diệp, 100g lá Bưởi (hoặc quýt, chanh). Nấu trong 2 lít nước. Sôi 20 phút nhấc xuống, xông 15 phút.
+ Cách thứ 2: Nấu lá thuốc cứu với 100g lá Tía tô, 100g Tần dầy lá, 50g lá Sả trong 1 lít nước còn 0,5 lít. Uống mỗi lúc khát, liên tục trong 3 – 5 ngày.

  • Trị bong gân: Lá Ngải cứu khô 100g (nếu lá tươi, chỉ cần giã dập), tẩm rượu hoặc giấm thanh, bó vào nơi bị tổn thương. Ngày bó 1 lần. Có thể bó 2 lần nếu chỗ tổn thương đau nhiều và sưng.
    Kết quả:
    + Giảm đau, cơn đau dịu dần và dứt hẳn vào ngày thứ 2 – 3.
    + Sưng nề và tụ máu dưới da rút đi nhanh chóng.
    + Hồi phục chức năng: Cử động chi sớm. Sau lần bó thứ 2 người bệnh có thể đi lại nhẹ nhàng vì Ngải cứu làm mềm gân cơ, hạn chế hiện tượng xơ hóa tổ chức, cử động được nhanh chóng.
    + Rút ngắn thời gian điều trị do:
    – Tanin (Ta nanh) có chất chống phù nề.
    – Xineol làm giảm đau và làm mềm gân, chống quá trình xơ hóa.
    – Thyon có tác dụng kích thích gân cơ, dây chằng giúp phục hồi cử động sớm.

Ngải cứu thường dùng trị xuất huyết do hư hàn. Muốn tăng tác dụng ôn kinh, chỉ huyết thì phải sao thành than. Ngải cứu tính ấm mà thơm, ấm khí huyết, ôn kinh lạc, trục hàn thấp, chỉ lãnh thống, lại dùng làm dược liệu trong thuốc cứu. Ngải cứu phối hợp với bài Tứ Vật và A giao có thể cầm máu, dùng cho bệnh nhân xuất huyết do hạ tiêu hư hàn. Ngải cứu có thể ôn ấm khí huyết ở hạ tiêu, giống như vị Nhục quế nhưng Nhục quế vị cay, ngọt, rất nóng, có thể hành huyết mà không thể cầm máu, có thể truỵ thai mà không an thai. Còn Ngải cứu vị đắng, cay, tính ôn, vừa ôn vừa hành khí huyết để điều kinh, lại có thể cầm máu để an thai, đó là điểm bất đồng giữa Nhục quế và Ngải cứu.

BÀI VIẾT MỚI
- Advertisment -
Google search engine

TIN LIÊN QUAN