https://linchidofood.com.vn/
HomeChuyên Đề YHPTHuyền thoại cây Ngải cứu

Huyền thoại cây Ngải cứu

Theo một số tài liệu, tên “Ngải cứu” có nghĩa là “cứu vãn tình nghĩa “, nó gắn liền với một câu chuyện cổ, trong đó ngải cứu tham gia giải nguy cho mối tình của cô gái Kim Tuyến và chàng kỵ sĩ…

Chuyện kể rằng, ngày xưa… ở vùng Nội Mông (Trung Quốc), có cô gái dáng hình thắt đáy lưng ong, nhan sắc kiêu sa, tên là Kim Tuyến. Ở độ tuổi 20, nàng đã kết duyên cùng một chàng kỵ sĩ. Một hôm, nhân buổi du xuân, có vị đại thần nhác trông thấy Kim Tuyến đã sinh lòng muốn chiếm đoạt và tìm cách sát hại kỵ sĩ. Ông ta bèn vu cho chàng kỵ sĩ là đã bắn chết con ngựa của mình, nếu muốn được tha tội, chàng phải nộp cho quan một đoạn dây thừng bện bằng tro cỏ, bằng không, sẽ bị đầy biệt xứ…!

Hiểu được tâm địa của vị quan, Kim Tuyến ra vườn nhổ những cây thuốc già, héo khô về bện thành đoạn thừng, đặt lên chiếc mâm đồng, rồi đốt cháy dần thành tro đem cho chồng bê “mâm thừng” đến nộp cho quan. Thoạt trông thấy, quan phủ ngớ người nhìn mà không nói năng gì! Thấy được tài trí của đôi vợ chồng này, viên quan đành tuyên bố tha tội cho chàng kỵ sĩ, và từ bỏ ý muốn chiếm đoạt Kim Tuyến.

Vậy là loại cây thuốc trồng ở vườn kia đã cứu vãn sự cách chia tình nghĩa vợ chồng. Dân làng biết chuyện, gọi cây ấy là cây “Ngải cứu”. Từ đó, người ta còn phát hiện ra nhiều công dụng của Ngải cứu với mùi hương thơm nồng, hăng hắc không lẫn vào đâu được.

NGẢI CỨU

Một trong số những cây thuốc quý đối với phụ nữ, đó là cây Ngải cứu. Ngoài dùng làm thuốc uống, cây Ngải cứu còn dùng để chế thành những điếu thuốc cứu dùng trong châm cứu.

Trước đây, hầu như nhà nào ở miền quê cũng đều có cây Ngải cứu vì rất dễ trồng, và hầu như phụ nữ Việt Nam ở miền quê đều có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc này…

Tên khoa học là Artemisia vulgaris L. Họ Cúc (Asteraceae).

Hái cành và lá vào tháng 6 (tương ứng với ngày 5-5 âm lịch). Phơi trong râm cho khô. Khi hái về, phơi khô, tán nhuyễn, rây lấy phần lông trắng và tơi, gọi là Ngải nhung, dùng làm mồi cứu.

Bộ phận dùng: Lá. Dùng tươi thì rửa sạch giã vắt lấy nước uống.

Tác dụng dược lý:

  • Tác dụng cầm máu: Nước ngâm kiệt Ngải diệp cho thỏ uống, có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu. Trong dân gian vẫn dùng lá Ngải cứu sắc uống để chữa băng huyết, rong huyết của phụ nưa là dựa vào cơ chế cầm máu này.
  • Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc Ngải diệp trong ống nghiệm có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, liên cầu anpha dung huyết, phế song cầu khuẩn, trực khuẩn bạch hầu, trực khuẩn lỵ Sonner, trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn, khuẩn thổ tả và nhiều loại nấm gây bệnh.
  • Tác dụng giảm ho: Dầu Ngải diệp thụt vào dạ dày hoặc chích vào ổ bụng, có tác dụng giảm ho đối với súc vật thí nghiệm như mèo, chuột, chuột lang. Trong dân gian, các cụ lớn tuổi khi bị ho vào sáng sớm, các cuh thường nấu lá Ngải cứu uống, thấy cơn ho giảm hoặc hết hẳn.
  • Tác dụng hoá đờm: Dầu Ngải diệp bơm vào dạ dày, chích dưới  da hoặc chích vào ổ bụng đều có tác dụng hoá đờm đối với thỏ và chuột nhắt. Thuốc có tác dụng trực tiếp lên phế quản, kích thích xuất tiết.
  • Dầu Ngải diệp có tác dụng an thần của Barbital sodium.
  • Tác động đối với tử cung: Chích hoặc  uống Ngải diệp gây nên co bóp mạnh tử cung heo.

Vị đắng, cay, tính ấm, vào kinh Tỳ, Can, Thận, có tác dụng ôn bào cung, cầm máu, an thai, khứ hàn, giảm đau.

Kiêng kỵ: Người huyết nhiệt, âm hư: không dùng.

Liều dùng: 6-12g.

BÀI VIẾT MỚI
- Advertisment -
Google search engine

TIN LIÊN QUAN